TOP
Ẩm thực 3 miền

Bánh mì

Thuật ngữ

Trong tiếng Việt, từ bánh mì có nguồn gốc từ bánh (có thể dùng để chỉ nhiều loại thực phẩm, chủ yếu là bánh nướng, bao gồm cả bánh mì) và mì (lúa mì). Nó cũng có thể được đánh vần là bánh mì ở miền Bắc Việt Nam. Nói một cách đơn giản, bánh mì có nghĩa là “bánh mì”, nhưng cũng được hiểu là bánh mì Việt Nam. Qua synecdoche, nó cũng có thể đề cập đến bánh mì kẹp, với thuật ngữ bánh kẹp hoặc bánh mì thịt được dùng để phân biệt. Một từ nguyên dân gian cho rằng từ bánh mì là sự thay đổi từ tiếng Pháp Pain de mie, có nghĩa là bánh mì trắng, mềm. Tuy nhiên, bánh được gọi là bánh gạo và các loại bánh ngọt khác từ đầu thế kỷ 13, thế kỷ trước khi người Pháp tiếp xúc.

Lịch sử

Từ bánh mì, nghĩa là “bánh mì”, được chứng thực trong tiếng Việt từ những năm 1830, trong từ điển Dictionarium Latino-Annamiticum của Jean-Louis Taberd. Thực dân Pháp đã du nhập vào Việt Nam món bánh mì baguette, cùng với các loại bánh nướng khác như pa tê chaud, vào những năm 1860, khi Việt Nam là một phần của Đông Dương thuộc Pháp. Ban đầu miền Bắc Việt Nam gọi baguette là bánh tây, nghĩa đen là “bánh Tây”, trong khi miền Nam Việt Nam gọi là bánh mì, “bánh mì”. Nguyễn Đình Chiểu nhắc đến cái bánh giầy trong bài thơ “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” năm 1861 của ông. Do giá lúa mì nhập khẩu vào thời điểm đó, bánh mì tròn và bánh mì kẹp của Pháp được coi là những mặt hàng xa xỉ. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, một làn sóng binh lính Pháp và quân nhu đã đến. Đồng thời, việc nhập khẩu lúa mì bị gián đoạn khiến các nhà sản xuất bánh bắt đầu trộn bột gạo rẻ tiền (loại bột này cũng làm cho bánh mì trở nên mềm hơn). Do đó, người Việt Nam bình thường có thể thưởng thức các mặt hàng chủ lực của Pháp như bánh mì. Nhiều cửa hàng nướng bánh hai lần một ngày, vì bánh mì có xu hướng nhanh hỏng hơn trong điều kiện khí hậu Việt Nam. Bánh mì baguette chủ yếu được ăn vào bữa sáng với một ít bơ và đường.

Cho đến những năm 1950, bánh mì kẹp gần gũi với khẩu vị của người Pháp, điển hình là bánh mì jambon tẩm sốt mayonnaise hoặc phết patê gan. Cuộc chia cắt năm 1954 của Việt Nam đã đưa hơn một triệu người di cư từ Bắc Việt Nam vào Nam Việt Nam, biến đổi ẩm thực địa phương của Sài Gòn. Trong số những người di cư có Lê Minh Ngọc và Nguyễn Thị Tịnh, mở một tiệm bánh mì nhỏ tên là Hòa Mã ở Quận 3. Năm 1958, Hòa Mã trở thành một trong những tiệm đầu tiên bán bánh mì thịt. Vào khoảng thời gian này, một người di cư khác từ miền Bắc bắt đầu bán bánh mì chả cá thúng trên xe mobylette, và một quầy hàng ở tỉnh Gia Định (quận Phú Nhuận ngày nay) bắt đầu bán bánh mì phá lấu. Một số cửa hàng nhồi bánh mì sandwich với pho mát Cheddar rẻ tiền, đến từ viện trợ lương thực của Pháp mà những người di cư từ miền Bắc đã từ chối. Cộng đồng người Việt ở Pháp cũng bắt đầu bán bánh mì. Sau sự sụp đổ của Sài Gòn năm 1975, bánh mì sandwich một lần nữa trở thành một mặt hàng xa xỉ. Trong cái gọi là “thời bao cấp”, các quán phở quốc doanh thường phục vụ bánh mì hoặc cơm nguội như một món ăn kèm, dẫn đến tục lệ chấm quẩy vào phở ngày nay. Vào những năm 1980, cải cách thị trường Đổi Mới đã dẫn đến sự phục hưng của bánh mì, chủ yếu là thức ăn đường phố. Trong khi đó, những người Mỹ gốc Việt đã mang bánh mì sandwich đến các thành phố trên khắp nước Mỹ. Tại Bắc California, Lê Văn Bá và các con trai của ông được ghi nhận là người đã phổ biến bánh mì cho người Mỹ gốc Việt và không phải gốc Việt thông qua nhà cung cấp dịch vụ xe tải thực phẩm và chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh Lee’s Sandwiches, bắt đầu từ những năm 1980. Đôi khi bánh mì được ví như bánh mì địa phương. Tại New Orleans, một công thức chế biến “po ‘boy Việt Nam” đã giành được giải thưởng dành cho po’ boy ngon nhất năm 2009 tại Lễ hội Po-Boy phố Oak hàng năm. Một nhà hàng ở Philadelphia cũng bán một loại bánh mì tương tự, được tiếp thị là “món bánh mì Việt Nam”. Bánh mì sandwich được giới thiệu trong bộ phim tài liệu PBS năm 2002 Sandwiches That You Will Like. Từ bánh mì đã được thêm vào Từ điển tiếng Anh Oxford vào ngày 24 tháng 3 năm 2011. Tính đến năm 2017, bánh mì được đưa vào khoảng 2% thực đơn bánh mì của nhà hàng Hoa Kỳ, tăng gần gấp 5 lần so với năm 2013.

Các loại bánh mì

Loại bánh mì phổ biến nhất của Việt Nam là bánh mì thịt, nghĩa là “thịt”. Bánh mì thịt nguội (còn được gọi là bánh mì patê chả, bánh mì đặc biệt, hoặc “combo đặc biệt”) được làm với nhiều loại thịt nguội Việt Nam khác nhau, chẳng hạn như thịt lợn thái mỏng hoặc bụng lợn, chả lụa (xúc xích lợn) và đầu pho mát, cùng patê gan và các loại rau củ như cà rốt hoặc dưa chuột.

Các loại khác bao gồm:

  • Bánh mì bì (bánh mì thịt heo xé) – bì heo hoặc da heo xé sợi, chấm với nước mắm sandwich).
  • Bánh mì pa-tê (bánh mì patê) Bánh mì xá xíu hoặc bánh mì thịt nướng (sandwich thịt nướng) Bánh mì chả lụa hoặc bánh giò lụa (sandwich xúc xích heo).
  • Bánh mì gà nướng (sandwich gà nướng) Bánh mì chay (bánh mì chay) – làm bằng đậu phụ hoặc seitan; Ở Việt Nam, thường được làm tại các chùa Phật giáo trong các sự kiện tôn giáo đặc biệt, nhưng không phổ biến trên đường phố.
  • Bánh mì chả cá (bánh mì chả cá) Bánh mì bơ (bơ thực vật hoặc bánh mì bơ) – bơ thực vật / bơ và đường ) – chứa trứng chiên với hành tây, rưới nước tương, đôi khi bơ; Phục vụ bữa sáng tại Việt Nam.
  • Bánh kẹp kẹp kem (bánh mì kẹp kem) – đựng những muỗng kem phủ đậu phộng giã nhỏ.

«

»

what do you think?

Your email address will not be published. Required fields are marked *